Đề thi thử tốt nghiệp môn văn cụm THPT Hải Phòng lần 2 2026 bao gồm 13 trường cấp 3 trên địa bàn ra đề nhiều môn học. Đề có đáp án chữa chi tiết, các em làm xong nhớ kiểm tra lại nha.
Xem thêm: Đề thi thử thpt quốc gia 2026 môn văn
Đề thi thử tốt nghiệp môn văn cụm THPT Hải Phòng lần 2 2026
Mua File đề thi các môn Toán, Lịch Sử, Địa Lí, KTPL, Tiếng Anh…. giá chỉ từ 50,000 đồng vui lòng liên hệ:
Fanpage Tôi có Tài Liệu Học Tập
Số điện thoại/Zalo: 0328805745 (Trần Đức Đoàn)

Đáp án
Phần I:
Câu 1
Dấu hiệu xác định ngôi kể – – Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. – – Dấu hiệu: + Người kể không xưng “tôi”, đứng ngoài câu chuyện để quan sát, miêu tả suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật. (hoặc Người kể gọi nhân vật bằng “ông”, “bà”)
Câu 2
– Phải mất cả tuần các móng chân mới rụng hết – Ánh mắt đã trở nên yếu ớt, thảng thốt (Học sinh có thể chọn chi tiết khác gián tiếp miêu tả nỗi đau của chim hoét qua tâm trạng người đàn ông như:”Thật kinh khủng; Ông đã rơi nước mắt khi cái móng chân cuối cùng rụng đi”. Nếu chọn chi tiết này thì chỉ cho 0,25)
Câu 3
– BPTT so sánh: “Cũng giống con người thôi…” – đặt con chim trong sự tương đồng với con người về tình cảm quê hương.
– Tác dụng: + Giúp cho việc diễn đạt trở nên sống động, gợi hình, gợi cảm… + Nhấn mạnh khát vọng trở về quê hương là tình cảm tự nhiên, thiêng liêng, dai dẳng và mãnh liệt, không gì có thể ngăn cản. + Thể hiện đồng cảm, niềm tin, sự trân trọng, nâng niu khát vọng trở về cội nguồn …
Câu 4
Nêu được vai trò của chi tiết trong việc thể hiện nội dung văn bản – Khắc họa sự mất mát, đau đớn, tổn thương khốc liệt mà con chim phải chịu đựng. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ cho những đau thương, nghịch cảnh mà con người có thể phải đối diện trong cuộc sống. – Làm nổi bật sức sống bền bỉ, khả năng thích nghi trước nghịch cảnh. – Thể hiện niềm tin vào nghị lực sống và khát vọng vượt lên đau thương
Câu 5
Điểm tương đồng về nội dung – Cùng thể hiện nỗi ám ảnh, tổn thương tinh thần dai dẳng, kéo dài của con người sau chiến tranh. Những kí ức đau thương ấy đã trở thành một phần không thể xóa nhòa trong tâm hồn người lính. – Bày tỏ nỗi xót xa, niềm cảm thông sâu sắc với những con người mang thương tích tinh thần thời hậu chiến.
Phần II
b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.
b1. Phân tích được tâm trạng của người đàn ông qua những bằng chứng dẫn từ văn bản đọc hiểu – Xót xa, đau đớn, ám ảnh trước nỗi đau thể xác của con chim/sự đồng cảm sâu sắc: thật kinh khủng, ông đã rơi nước mắt, ông tưởng tượng ra nỗi thống khổ… – Bàng hoàng, day dứt, bất lực khi chứng kiến cái chân bị của chim hoét hoại tử: Ông chôn chân cả ngày, ông hy vọng hão huyền rằng sự hiện diện của mình sẽ chia bớt đau đớn cho chú chim, ông bàng hoàng ngắm đi ngắm lại… – Ám ảnh quá khứ chiến tranh, nỗi đau thân xác và tinh thần của người lính: Cái chết không đáng sợ bằng đau đớn, có khi trên đời này chỉ có nỗi đau là thật, những cơn đau cũ lại hiện về…, có người bạn của ông bị cưa đến tận bẹn, đôi mắt nhắm nghiến chịu đựng đó vẫn hiện về ám ảnh ông… – Hi vọng, lạc quan, hồi sinh niềm tin khi biết chim còn sống và tin tưởng vào khả năng thích nghi và trở về cố hương: không thể tin được, nó vẫn còn…Một chân, nhưng có vẻ khỏe mạnh, nó là con chim thần thánh rồi, nó sẽ làm quen được với một chân, rồi nó sẽ bay vững vàng như khi hai chân thôi, loài chim cũng như mình, thường thích nghi rất tốt để tồn tại.
b2. Đánh giá được tâm trạng người đàn ông: Tấm lòng nhân hậu, giàu trắc ẩn. Niềm tin vào nghị lực sống và khả năng thích nghi…
b3. Sáng tạo – Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục. – Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Câu 2
Từ kết quả đọc hiểu văn bản Chim hoét một chân và những hiểu biết về những mất mát, tổn thương mà con người phải gánh chịu sau chiến tranh cũng như trong đời sống hiện đại, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: sự thích nghi và nghị lực sống trước nghịch cảnh
—–
b1. Viết được mở bài và kết bài Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Giải thích được vấn đề nghị luận – – Nghị lực sống: Ý chí, bản lĩnh vượt qua khó khăn. – – Thích nghi: Khả năng điều chỉnh bản thân để tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh mới. – – Khẳng định: Người có nghị lực sống luôn mạnh mẽ, không gục ngã trước khó khăn. Người biết thích nghi sẽ dám đối diện và biết thay đổi để phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau.
b3. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận – Phân tích, chứng minh được vì sao con người cần sự thích nghi và nghị lực sống trước nghịch cảnh: + Cuộc sống luôn tồn tại mất mát, biến cố, nó là điều tất yếu của cuộc sống (chiến tranh, bệnh tật, tai nạn, thất bại, áp lực hiện đại…). + Con người không thể lựa chọn hoàn cảnh nhưng có thể lựa chọn cách đối diện. Không có sự thích nghi, nghị lực con người dễ rơi vào khủng hoảng, bế tắc, bị hoàn cảnh đào thải, dễ buông xuôi, đánh mất niềm tin và ý nghĩa tồn tại. – Phân tích, chứng minh được ý nghĩa của sự thích nghi và nghị lực sống: + Nghị lực giúp con người đứng vững về tinh thần, không đầu hàng số phận. Khả năng thích nghi chính là cách con người điều chỉnh bản thân phù hợp với hoàn cảnh mới để tồn tại và phát triển. + Thích nghi là điều kiện sống còn giúp vượt qua khủng hoảng, chữa lành tổn thương. Biến nghịch cảnh thành cơ hội trưởng thành. Khẳng định giá trị và bản lĩnh con người… + Tạo nên những tấm gương truyền cảm hứng. Góp phần xây dựng cộng đồng tích cực… – Cần làm gì để có thể thích nghi và có được nghị lực sống + Nhận thức rằng nghịch cảnh là một phần tất yếu của cuộc đời. Giữ thái độ sống tích cực, không than thân trách phận. + Dám đối diện thất bại, coi sai lầm là bài học để trưởng thành. + Nuôi dưỡng niềm tin, mục tiêu và khát vọng sống.
b4. Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học – – Trong thực tế, không phải mọi nỗ lực đều đem lại kết quả như mong muốn; có những nghịch cảnh quá lớn. Vậy nên thích nghi tích cực là điều chỉnh để tồn tại và phát triển, không phải cam chịu hay đầu hàng số phận, không cố chấp mù quáng mà là biết chấp nhận thực tế để tìm hướng đi phù hợp.
– Đối thoại với những suy nghĩ trái chiều: trước nghịch cảnh quá lớn, con người khó có thể vượt qua bằng ý chí cá nhân. Sự thích nghi và nghị lực sống có thể không xóa bỏ được nghịch cảnh nhưng giúp con người thay đổi thái độ, tìm kiếm sự hỗ trợ, mở ra cơ hội hồi phục và tái thiết cuộc sống.
b5. Sáng tạo – Có những ý tưởng đột phá vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục – Có cách diễn đạt tinh tế độc đáo